Chùa Thiên Mụ


chùa Thiên Mụ xưa

chùa Thiên Mụ xưa

Chùa Thiên Mụ tọa lạc trên đồi Hà Khê, bên tả ngạnsông Hương, thuộc xã Hương Long, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Đến với Thiên Mụ, du khách không khỏi cảm kích trước vẻ đẹp thiên nhiên, trước công trình đời xưa để lại với ngọn tháp hùng vĩ đứng soi mình trên dòngsông Hương duyên dáng. Nơi đây, từ bốn thế kỷ nay, sớm chiều tiếng chuông chùa ngân vang vọng cùng với khói hương ngào ngạt tỏa ra giữa thanh không vắng lặng, đã hấp dẫn và say đắm biết bao lòng người xứ Huế và du khách bốn phương.

Nguồn:http://www.vietgle.vn

Chùa Thiên Mụ chính thức khởi lập năm Tân Sửu (1601), đời chúa Tiên – Nguyễn Hoàng.

Dưới thời chúa Quốc -Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) theo đà phát triển và hưng thịnh của Phật giáo xứ Đàng Trong, chùa được xây dựng lại quy mô hơn. Năm 1710, chúa Quốc cho đúc một chiếc chuông lớn,nặng tới trên hai tấn, gọi là Đại Hồng Chung, có khắc một bài minh trên đó. Đến năm 1714, chúa Quốc lại cho đại trùng tu chùa với hàng chục công trình kiến trúc hết sức quy mô như điện Thiên Vương, điện Đại Hùng, nhà Thuyết Pháp, lầu Tàng Kinh, phòng Tăng, nhà Thiền… mà nhiều công trình trong số đó ngày nay không còn nữa. Chúa Quốc còn đích thân viết bài văn,khắc vào bia lớn (cao 2m60,rộng 1m2) nói về việc xây dựng các công trình kiến trúc ở đây,việc cho người sang Trung Quốc mua hơn 1000 bộ kinh Phật đưa về đặt tại lầu Tàng Kinh, ca tụng triết lý của đạo Phật, ghi rõ sự tích Hòa thượng Thạch Liêm – người có công lớn trong việc giúp chúa Nguyễn chấn hưng Phật giáo ở Đàng Trong. Bia được đặt trên lưng một con rùa đá rất lớn, trang trí đơn sơ nhưng tuyệt đẹp.

Với cảnh đẹp tự nhiên và quy mô được mở rộng ngay từ thời đó, chùa Thiên Mụ đã trở thành ngôi chùa đẹp nhất xứ Đàng Trong. Trải qua bao biến cố lịch sử, chùa Thiên Mụ đã từng được dùng làm đàn Tế Đất dưới triều Tây Sơn (khoảng năm 1788), rồi được trùng tu tái thiết nhiều lần dưới triều các vua nhà Nguyễn.

Năm 1844, nhân dịp mừng lễ “bát thọ” của bà Thuận Thiên Cao Hoàng hậu (vợ vua Gia Long, bà nội của vua Thiệu Trị), vua Thiệu Trị kiến trúc lại ngôi chùa một cách quy mô hơn: xây thêm một ngôi tháp bát giác gọi là Từ Nhân (sau đổi là Phước Duyên), đình Hương Nguyện và dựng 2 tấm bia ghi lại việc dựng tháp, đình và các bài thơ văn của nhà vua.

thể kiến trúc chùa Thiên Mụ tọa lạc trong khuôn viên có diện tích khoảng 6ha. Chùa được bao quanh bằng khuôn tường xây đá hai vòng trong ngoài. Bên trong được chia làm hai khu vực:

Khu vực trước cửa Nghi Môn: gồm có các công trình kiến trúc: Bến thuyền đúc bê-tông có 24 bậc tam cấp lên xuống, cổng Tam quan là bốn trụ biểu xây sát đường cái, từ cổng tam quan bước lên 15 bậc tam cấp là đình Hương Nguyện (nay chỉ còn lại nền đất và bộ móng xây bằng đá thanh). Sau đình Hương Nguyện là tháp Phước Duyên xây bằng gạch với bảy tầng cao vòi vọi. Hai bên đình Hương Nguyện có hai lầu bia hình tứ giác (dựng thời Thiệu Trị), lui về phía trong có hai lầu hình lục giác một lầu để bia và một lầu để chuông (dựng thời Nguyễn Phúc Chu). Đây là những công trình có tính chất lưu niệm (bia, tháp).

Khu vực phía trong cửa Nghi Môn: gồm các điện Đại Hùng, điện Địa Tạng, điện Quan âm, nhà Trai, nhà Khách, vườn hoa, phía sau cùng là hồ nước và vườn thông tĩnh mịch.

Theo Hà Phương – Phương Anh (Đời sống Pháp Luật)

Từ xưa, đây là thảo am thờ nữ thần có tên là Bà Trời. Về sau, nhân dân lập thành chùa thờ. Năm Tân Sửu 1601, Đoan quốc công Nguyễn Hoàng cho xây dựng ngôi chùa mới trên nền cũ. Bấy giờ, sau hơn 6 năm ở kinh đô Thăng Long, giữ chức Thái Bảo, Nguyễn Hoàng trở về Thuận Hóa xây dựng thế lực để biệt lập với họ Trịnh. Một hôm, nhân rỗi việc, Nguyễn Hoàng đi thăm các nơi núi sông cảnh đẹp trong bản trấn. Khi đến xã Hà Khê, huyện Kim Trà địa danh nơi đây vào thời Lê Mạc)thấy giữa chốn đồng bằng đột khởi một đồi cao tựa đầu con rồng, đang nhìn về núi mẹ. Đoan quốc công thầm khen là nơi danh thắng, bèn trèo lên đồi cao ngắm khắp xung quanh. Chợt thấy một đoạn hào cắt ngang dưới chân núi, chưa rõ nguyên do ra sao. Nguyễn Hoàng sai hỏi người địa phương. Các bô lão nói: Tương truyền núi này rất linh thiêng, Cao Biền (nhà Đường) sang làm An Nam sứ, từng đi khắp nơi ở nước ta xem nơi nào có vượng khí thì lập phép trấn yểm. Đêm hôm ấy, Cao Biền chiêm bao thấy một bà lão đầu tóc bạc phơ ngồi dưới chân núi này kêu gào than vản, rồi cất tiếng nói to: “ Đời sau nếu có bậc quốc chủ muốn bồi đắp mạch núi này để làm mạnh cho Nam triều, thì nên lập chùa thờ Phật, cầu linh khi trở về để giúp nước yên dân, tất không có sự gì đáng phải lo ngại”. Nói xong bà lão biến mất. Dân địa phương từ đó đặt tên núi là Thiên Mụ – 天姥 (Bà lão nhà trời). Nguyễn Hoàng nghe nói cả mừng, bảo rằng: “Ấy là bà lão nhà trời bảo ta mở nền định đất, biến nhà thành nước để gây nghiệp lớn”. Nói đoạn, sai người cất dựng chùa Phật, tự tay viết biển đề tên chùa là Thiên Mụ tự – 天姥寺.

Năm Ất Tỵ (1665) Thái Tông Nguyễn Phúc Tần (chúa Hiền) trùng tu. Năm Canh Dần (1710) Hiển Tông Nguyễn Phúc Chu (chúa Minh) cho đúc chuông lớn. Năm Giáp Ngọ (1714) mở rộng quy mô xây thêm điện thờ Thiên Vương, điện thờ Ngọc Hoàng, điện Đại Hùng, nhà Thuyết Pháp, lầu Tàng Kinh, nhà Thủy Vân, điện Đại Bi, điện Dược Sư v.v…Khi công việc hoàn tất, chúa Nguyễn Phúc Chu tự viết văn bia ghi việc trùng tu đề niên hiệu Lê Vĩnh Thịnh 11 (1715). Cuối thế kỷ XVIII, chùa bị binh hỏa làm hư hại nặng. Đầu đời Nguyễn, các vua Gia LongMinh Mạng cho trùng tu. Năm 1846, vua Thiệu Trị cấp tiền sai Hoàng Văn Hậu dựng tháp Phước Duyên cao 87 thước, đồng thời vua cũng liệt cảnh chùa vào trong 20 cảnh đẹp của kinh thành trong bài thơ Thiên Mụ chung thanh. Năm Tự Đức nguyên niên 1847, vua đổi tên là chùa Linh Mụ. Trong những năm 1943-1945, chùa lâm vào cảnh hoang tàn, đổ nát. Hoà Thượng Thích Đôn Hậu đã đứng ra trùng tu, sửa chữa chùa trong suốt 30 năm. Đến năm 1968, chùa Thiên Mụ đã trở lại quang cảnh tươi đẹp như xưa. Ngày nay, chùa Thiên Mụ là danh thắng nổi tiếng trên đất cố đô, một trong những kiến trúc tôn giáo cổ nhất và đẹp nhất ở Huế và đã được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia.

Từ bến thuyền theo những bậc cấp để lên chùa

ảnh trích từ trang:http://sonthan.blogspot.com

Quần thể kiến trúc chùa Thiên Mụ tọa lạc trong khuôn viên có diện tích khoảng 6ha. Chùa được bao quanh bằng khuôn tường xây đá hai vòng trong ngoài. Bên trong được chia làm hai khu vực:

Phía trước Nghi Môn gồm các công trình kiến trúc, có 24 bậc tam cấp lên xuống Tam Quan và 4 trụ biểu xây sát đường, từ đó có 15 bậc tam cấp dẫn đến Đình Hương Nguyện.

ảnh trích từ  trang http://sonthan.blogspot.com

Khu vực trước cửa Nghi Môn: gồm có các công trình kiến trúc: Bến thuyền đúc bê tông có 24 bậc tam cấp lên xuống, cổng Tam quan là bốn trụ biểu xây sát đường cái, từ cổng tam quan bước lên 15 bậc tam cấp là đình Hương Nguyện (nay chỉ còn lại nền đất và bộ móng xây bằng đá thanh). Sau đình Hương Nguyện là tháp Phước Duyên xây bằng gạch với bảy tầng cao vòi vọi. Hai bên đình Hương Nguyện có hai lầu bia hình tứ giác (dựng thời Thiệu Trị), lui về phía trong có hai lầu hình lục giác, một lầu để bia và một lầu để chuông (dựng thời Nguyễn Phúc Chu). Đây là những công trình có tính chất lưu niệm (bia, tháp).

Khu vực phía trong cửa Nghi Môn: gồm các điện Đại Hùng, điện Địa Tạng, điện Quan âm, nhà Trai, nhà Khách, vườn hoa, phía sau cùng là hồ nước và vườn thông tĩnh mịch.

Dưới đây là những công trình nghệ thuật được đánh giá là quan trọng nhất trong chùa:

Phước Duyên Bửu Tháp: Tháp hình bát giác cao 7 tầng (21m) dưới lớn trên nhỏ. Số 7 là con số linh của đạo Phật. Hệ thống bậc cấp trước chùa cũng tính theo số 7. Trong tháp có hệ thống bậc thang xây cuốn từ dưới lên trên, chỉ trừ giữa tầng thứ 6 và tầng thứ 7 là phải dùng cái thang di động bằng gỗ và cái cửa với chìa khoá đặc biệt, vì ở tầng trên cùng này xưa kia có thờ tượng Phật bằng vàng.

Đại Hồng Chung: Chuông cao 2,5m, đường kính 1,4m, nặng 2,025kg, là một tác phẩm nghệ thuật bằng đồng rất xuất sắc của Việt Nam đầu thế kỷ XVIII. Mặt trên quả chuông có 8 chữ “Thọ” khắc theo lối chữ triện, ở giữa thân chuông chia làm 4 khoảng, khắc bài minh của chúa Nguyễn Phúc Chu và chạm nổi những hình ảnh long, vân, nhật, tinh; ở phần dưới khắc hình bát quái và thủy ba.

Đại hồng chung chùa Thiên Mụ được đúc từ thời Chúa Nguyễn Phúc Chu (năm 1710) để cúng cho ngôi Quốc tự, nặng hơn 2.000kg, hiện đặt tại chùa Thiên Mụ. Chuông này cũng đã xưa đến gần 300 năm. Chuông rất lớn và đẹp, chiều cao 2,5m, đường kính miệng 1,40m, nặng 1.986 kg. Trên chuông có khắc bài minh của chúa Nguyễn Phúc Chu “chú nguyện mưa thuận gió hoà, quốc thái dân an”. Chuông này hiện nay chỉ được đặt như một pháp khí của chùa mà không đánh.

Hoa văn trình bày trên chuông rất phong phú, trình độ mỹ thuật cao. Những nhóm chấm trình bày mỹ thuật, cành lá uốn tiếp theo nhau như những đợt sóng lượn. Các mô-típ long phụng rất linh động, có bốn con rồng quẫy mình, bốn con phượng bay đuôi rất dài. Tiếng của đại hồng chung này đã ngân vang trên đô thành Phú Xuân từ năm 1710 tây lịch cho đến năm 1815 tây lịch thì được chuông Gia Long thay thế. Chuông đã trở thành bảo vật của Phật giáo Thuận Hoá.

Được biết đợt nầy còn có 2 bộ hồ sơ các cổ vật khác của cố đô Huế cũng được lập và trình công nhận là Cửu đỉnh, Cửu vị thần công.

Bia thời chúa Nguyễn Phúc Chu: Ðây là một tấm bia đá thanh khá lớn, cao 2,6m rộng 1,25m, dựng trên lưng một con rùa bằng đá cẩm thạch dài 2,2m, rộng 1,6m đều được khắc chạm uyển chuyển, tinh vi. Bộ tác phẩm bằng đá này mang giá trị cao và nghệ thuật của thời các chúa Nguyễn.

Điện Đại Hùng: Ðây là ngôi điện chính trong chùa, một công trình kiến trúc đồ sộ nguy nga. Trong lần trùng tu năm 1957, ngoại trừ hệ thống rui và đòn tay, còn tất cả cột, kèo, băng, bệ… đều xây bằng bê tông và phủ bên ngoài một lớp sơn giá gỗ. Trong điện, ngoài những tượng Phật bằng đồng sáng chói, còn treo một cái khánh đồng khá lớn chạm hình nhật nguyệt, tinh tú và khắc những dòng chữ cho biết khánh này do một vị quan người Quảng Trị là Trần Đình Ân thuê đúc năm 1677 để cúng cho chùa và treo một bức hoành phi bằng gỗ sơn son thếp vàng do tự tay chúa Nguyễn Phúc Chu ngự đề năm 1714.

Đình Hương Nguyện cũ: Một trong những công trình kiến trúc bằng gỗ rất đặc biệt của thời vua Triệu Trị (1841 – 1847) mà hiện nay còn bảo lưu được ở chùa Thiên Mụ là bộ sườn của đình Hương Nguyên. Đình Hương Nguyên được xây trước mặt tháp Phước Duyên. Trong trận bão năm Thìn (1904) đình bị đổ. Để cho không gian tại đây được thoáng, người ta đã đem ngôi đình cũ vào dựng lại tại nền điện Di Lặc xưa để thờ Đức Địa Tạng. Đây là nguyên mẫu một ngôi nhà tứ giác độc đáo của 150 năm trước. Đứng trong nhà nhìn lên, chúng ta thấy hình bát quái được cấu trúc khéo léo ở cái nóc duy nhất ở chính giữa.

 Bí ẩn lời nguyền chùa Thiên Mụ

Nguồn:http://hn.24h.com.vn

Đã từ lâu, chùa Thiên Mụ (TP. Huế) nổi tiếng với 108 tiếng chuông ngày ngày giữ nhịp thời gian, mang theo tâm nguyện từ bi gửi gắm đến chúng sinh, giải tỏa mọi muộn phiền đau khổ. Ấy vậy mà, nơi chốn cửa phật từ bi này còn được gán một lời nguyền nghiệt ngã.

 Từ những câu chuyện bâng quơ của người dân Huế, đến những lời đồn đại trên các trang web, mạng xã hội của khách du lịch bốn phương, lời nguyền như nhập sâu vào tâm thức của bao người yêu nhau.

Chuông chùa gột rửa bụi trần

Chùa Thiên Mụ hiện có 2 quả chuông. Một quả chuông được đúc vào năm Canh Dần (1710) đặt trong một ngôi nhà bát giác phía bên trái tháp Phước Duyên nhìn từ ngoài cổng vào. Chuông cao 2,50m, đường kính miệng 1,40m, cân nặng 3.285kg. Trên chuông có khắc bài minh của chúa Nguyễn Phúc Chu chú nguyện mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an. Chuông này hiện nay chỉ được đặt như một pháp khí của chùa mà không đánh. Còn tiếng chuông Thiên Mụ từng được nhắc đến trong ca dao, là từ chiếc chuông được đúc vào năm Gia Long thứ 14 (1815), đặt trên lầu chuông bên trái cổng chùa dẫn vào điện Đại Hùng.

Chuông Thiên Mụ cấu thành từ một hàm lượng hợp kim đặc biệt, lại  mang trong mình giá trị tâm linh nên tạo nên âm sắc vang xa, bay vút lên trời cao thấu đến lòng người, khiến tâm thanh thản, giũ sạch bụi trần.

Bí ẩn lời nguyền chùa Thiên Mụ, Tin tức trong ngày, chua thien mu, xu hue, song huong, thien mu, loi nguyen

Dù bị đồn đoán bởi lời nguyền nghiệt ngã nhưng chùa Thiên Mụ vẫn tấp nập khách tham quan

Nhà vua cũng cho xây dựng hai tiểu đình trước Nghi môn để dựng bia đá khắc bài minh Thiên Mụ chung thanh. Bài minh có đoạn: “Bách bát hồng thanh tiêu bách kết. Tam thiên thế giới tỉnh tam duyên”. Nghĩa là: “Một trăm lẻ tám tiếng chuông tiêu tan trăm nỗi oan kết muộn phiền. Ba ngàn thế giới tỉnh ba duyên”.

Thượng tọa Thích Trí Tựu, trụ trì hiện nay của chùa cho biết: “Từ xưa đến nay, chuông chùa vẫn đánh mỗi ngày hai lần, lúc 19h30 và 3h30 sáng. Mỗi lần đánh trong thời gian 60 phút, bằng 108 tiếng chuông để xóa đi 108 nỗi phiền muộn trong thế gian. Khi được hỏi về con số 108, vị hòa thượng điềm đạm cho biết: Theo giáo lý nhà phật, chúng sinh trong tam giới (gồm dục giới, sắc giới và vô sắc giới) đều có chung  bát khổ (sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, ngũ ấm xí thạnh khổ, oán tằn hội, ái biệt ly khổ và cầu bất đắc khổ). Từ căn bản của 8 điều khổ sẽ dẫn đến 108 nỗi phiền não được chia nhỏ theo trạng thái tâm lý tình cảm. Và trong mỗi tiếng chuông đều mang theo tâm nguyện từ bi gửi gắm đến chúng sinh, giải tỏa những nỗi oan khiên, chán chường.

Duyên cớ lời nguyền nơi cổ tự

Chuyện kể rằng, khi chúa Nguyễn vẫn còn cai trị vùng Đàng Trong, và tình yêu đôi lứa vẫn còn nằm trong sự sắp đặt của cha mẹ, có cô gái con nhà quan danh giá, xinh đẹp đem lòng yêu một chàng trai mồ côi, lại nghèo khó. Mối tình vụng trộm của họ như con thuyền trắc trở không bến đỗ vì bị gia đình nhà gái ngăn cấm quyết liệt. Quá đau khổ, đôi trai gái cùng nhau ra sông Hương tự vẫn, vì những tưởng sống không đến được thì chết sẽ bên nhau mãi mãi. Nhưng trớ trêu thay, khi trái tim chàng trai đã ngừng đập dưới đáy sông Hương sâu thẳm, cô gái lại may mắn dạt vào bờ và được những người địa phương tốt bụng cứu sống. Gia đình cô gái tìm về, ép nàng lấy một vị quan nhất phẩm trong triều mà họ đã nhắm từ trước. Thời gian trôi qua, cô gái cũng dần nguôi ngoai nỗi buồn về người yêu cũ, thuận lấy chồng và sống một cuộc đời vinh hoa. Chờ người yêu mỏi mòn không thấy, oan hồn chàng trai uất hận cho số phận bất trắc của mình, bèn lang bạt vào chùa Thiên Mụ ngự trước mặt sông Hương, thề độc sẽ phá những đôi tình nhân đến đây viếng chùa. Có lẽ vì tích đó mà người ta truyền miệng nhau rằng, những ai còn cô đơn đến đây thành tâm cầu nguyện sẽ gặp được người thương, còn nếu có người yêu mà dắt nhau tới chùa, ắt sẽ chia lìa tan tác.

Gặp nhóm bạn trẻ sinh viên trường Đại học sư phạm Huế cùng lên thăm chùa, các bạn thành thực cho biết: “Chúng em nghe nhiều lắm rồi về lời đồn đó, nó có thật hay không chẳng ai lý giải rõ ràng cả. Nhưng nếu nghe kể đôi tình nhân nào đó yêu nhau đến chùa Thiên Mụ rồi về đứt tơ duyên, người ta càng khẳng định lời nguyền trên ứng nghiệm(!?). Còn những ai vẫn hạnh phúc vẹn đầy thì lời nguyền này chỉ  xem như câu chuyện đùa được thần thánh hóa, thêu dệt mà nên, tin hay không là tùy ở mỗi người mà thôi”.

Phúc – họa ở chính mình

Đức Phật có câu: “Thiên thượng, thiên hạ, duy ngã độc tôn”- đại ý rằng, con người là chủ của mình, không là nô lệ của ngoại cảnh. Và, một trong các giáo lý của phật giáo là Lý duyên sinh. Mọi sự, mọi vật đều do nhiều duyên hợp lại mà thành, hết duyên thì mất.

Phật giáo cũng lại có câu: “Trên trời, dưới trời chỉ có ta là tối thượng”. ý nghĩa là không có thượng đế nào sinh ra ta, không có đấng tạo hóa nào sinh ra ta. Câu nói đó còn mang một ý nghĩa khác, ấy là cuộc đời của ta như thế nào: Sướng hay khổ, giàu hay nghèo, hạnh phúc hay bất hạnh tất cả đều do ta quyết định. Phật cũng muốn chỉ cho chúng sinh thấy rằng, con người phải bắt đầu với chính mình, mọi việc trên cuộc đời này là tự mình làm, tự mình quyết định lấy mình. Nếu không tự giác ngộ lấy, thì những điều phù phiếm, xấu xa sẽ chi phối, dắt dẫn khiến chúng ta trở nên ngu muội mà thôi. Vậy thì ắt hẳn, lời nguyền kia có ứng nghiệm hay không, là bởi cái duyên của mỗi người mà thôi. Nữa, là nếu tình yêu đôi lứa nếu đủ chân thành và sự cố gắng nỗ lực vun đắp từ hai phía thì dù khó khăn, cách trở mấy cũng có thể vượt qua.

Từ xưa đến nay, người ta tin tưởng đạo phật là đạo từ bi, là đạo hiền lành, đạo vị tha.. Vì sự tin tưởng đó, cho nên khi đến chùa, tự nhiên cảm thấy mình gần với đức phật. Chuyện kể, trước đây có một ông Đốc học ở Tiền Giang dẫn một đoàn học trò của mình ra Huế. Sau khi viếng thăm một số chùa, ông buột miệng:  “Đi đến chùa rồi, tôi thấy đây là một chỗ tắm gội linh hồn của dân thành phố. Có lẽ chính bởi nhịp sống xô bồ, ồn ào, đầy rẫy bon chen khiến con người mỗi lần đến chùa thì tâm hồn sẽ được gột rửa được buồn bực, chán nản. Lối kiến trúc độc đáo, mộc mạc đã khiến cho chốn cổ tự mang lắm nét trầm mặc, tĩnh tại. Con người trần tục đến đây, ngắm nhìn những di vật xa xưa, đắm mình trong cái không gian thoáng đãng, xanh mát của đất trời, cỏ cây, cũng thấy lòng mình thanh thản đến lạ thường”.

Xin được mượn 4 câu thơ của nhà thơ Huyền Không để kết thúc chuỗi bài viết này: “Quê tôi có gió bốn mùa, có trăng giữa tháng có chùa quanh năm/ Chuông hôm gió sớm trăng rằm/Chỉ thanh đạm thế âm thầm thế thôi”.

Mái chùa che chở hồn dân tộc như bao đời nay người ta vẫn nói. Thế nên, không có nghĩa lý gì khi người ta phải tin vào những lời nguyền không rõ gốc tích, phải vậy không?

Theo Hà Phương – Phương Anh (Đời sống Pháp Luật)
Nguồn : Tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s